Hướng dẫn phương pháp nghiên cứu khoa học mới nhất 2020

Rate this post

Phương pháp nghiên cứu khoa học là từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên Google về chủ đề phương pháp nghiên cứu khoa học. Trong bài viết này, phuongphap.vn sẽ Hướng dẫn phương pháp nghiên cứu khoa học mới nhất 2020

Hướng dẫn phương pháp nghiên cứu khoa học mới nhất 2020

I. phương thức nghiên cứu thực tế (PPNCTT)

PPNCTT là nhóm các PP trực tiếp ảnh hưởng vào các đối tượng có trong thực tế để sử dụng bộc lộ bản chất và quy luật vận động của các phân khúc đó.

1. PP Nhìn khoa học (PPQSKH)

QSKH là PP nhận biết phân khúc một phương pháp có nền tảng để thu thập thông tin. Đây là một hình thức quan trọng để nhận thức trải nghiệm, thông tin. Nhờ Nhìn mà ta có thông tin về đối tượng, trên cơ sở đó tiến hành các bước tìm hiểu và tìm hiểu kế tiếp.
QSKH là một hoạt động được đơn vị đặc biệt, có mục đích, có plan, có phương tiện để nhận diện các thị trường được lựa chọnmục tiêu Quan sát là tìm các dấu hiệu đặc trưng hay những quy luật vận động và tăng trưởng của đối tượng.
QSKH được tiến hành trong thời gian dài hay ngắn, không gian rộng hay hẹp, phân khúc nhiều hay ít, tùy thuộc vào mục tiêu tìm hiểu của chủ đề. Các ebook Nhìn qua xử lý đặc biệt cho ta những kết lý luận đa sốchính xác về đối tượng.
QSKH có ba chức năng:

  • Thu thập thông tin thực tiễn, đây là chức năng cần thiết nhất. Các ebook thu thập qua xử lý cho ta những thông tin có trị giá về đối tượng;
  • Kiểm chứng các giả thiết hay các lý thuyết vừa mới có. Qua thực tiễn kiểm chứng mới khẳng định được độ tin cậy của lý thuyết;
  • Đối chiếu các kết quả nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn để tìm ra sự sai lệch của chúng, mà tìm mẹo bổ khuyết, hoàn thiện lý thuyết.

Có hai loại QSKH: Trực tiếp và gián tiếp. QS trực tiếp là QS trực diện thị trường đang diễn biến trong thực tiễn bằng mắt thường hoặc bằng các phương tiện kỹ thuật nghe Quan sát để thu thập thông tin một hướng dẫn trực tiếp. QS gián tiếp là QS diễn biến kết quả của các tác động tương tác giữa đối tượng cần QS với các thị trường không giống, mà bản thân phân khúc k thể QS trực tiếp được.
Các thị trường tìm hiểu có thể là đơn lẻ, đủ nội lực là số đông. Các phân khúc đó đủ sức đã vận động trong hoàn cảnh tự nhiên hay hoàn cảnh nhân tạo. Người QS đủ nội lực là nhà khoa học hay các ctv. Bất kỳ một QSKH nào cũng đều do con người thực hiện, cho nên phải tính đến các đặc điểm của công cuộc QS với các note sau:

  • Chủ thể QS là các nhà khoa học hay các cộng tác viên và vừa mới là con người đều bị các quy luật tâm lý chi phối. Mỗi cá nhân đều có tính chủ quan, chủ quan về trình độ, trải nghiệmquan điểmcảm xúc. QS có khi nào cũng thông qua lăng kính chủ quan, có “cái tôi” trong hàng hóa. Ví dụ: Ngay cả khi sử dụng máy quay phim một phương pháp “vô tư”, người cầm máy luôn luôn quay theo cảm hứng và góc độ mà họ muốn. Cái chủ quan có thể là gốc nguồn của mọi sai lệch, thậm chí có thể “xuyên tạc” sự thật.
  • Phải chú ý tới các quy luật của cảm giác, tri giác, như: Quy luật chọn, quy luật thích ứng và các ma giác,…
  • thị trường QS là thế giới phức tạp. Sự chuẩn xác của QS phụ thuộc một mặt vào trình độ của con người, mặt khác vào sự bộc lộ của chính phân khúcphân khúc nằm trong một nền móng có mối quan hệ khó khăn với đối tượng phức tạp không giống, nó lại luôn vận động, biến động và tăng trưởngcho nên việc định hình đúng các chỉ số trọng tâm về đối tượng cần QS là điều rất cần thiết.

tóm lại, QS là một PPNCKH quan trọng nói chung và trong lĩnh vực kiến trúc – thiết lập nói riêng. không những thế PPQSKH chưa đạt tới trình độ nhận thức bản chất bên trong của đối tượng, cần phải sử dụng hòa hợp QS với các PP khác để đạt tới hiệu quả bản chất và khách quan.

Xem thêm: Hướng dẫn các phương pháp dạy học tích cực mới nhất 2020

Xem thêm: Tổng hợp thực đơn ngày hè mới nhất 2020

2. PP điều tra (PPĐT)

điện thoại là PP thăm dò một group phân khúc trên một diện rộng nhằm phát hiện các quy luật phân bố, trình độ tăng trưởng, những đặc điểm về định tính và định lượng của các thị trường cần nghiên cứu.

Các tài liệu điều tra được sẽ là những thông tin quan trọng về thị trường cần cho các công cuộc tìm hiểu và là căn cứ để đề nghị những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tế.

Có hai loại ĐT: ĐT cơ bản (CB) và điện thoại không gian học (XHH)

  • điện thoại CB thăm dò sự có mặt của các đối tượng trên một diện rộng, để tìm hiểu các quy luật phân bố cũng như các đặc điểm về mặt định tính và định lượng.
  • ĐT XHH là điều tra quan điểm, thái độ, cảm xúc, nhu cầu, của quần chúng về một event (KT-XH), một hiện tượng (VH, MT),…
  • điện thoại là một PPNCKH quan trọng, một hoạt động có mục đích, có kế hoạch, được tiến hành một mẹo thận trọng.

ĐT CB được dùng cả trong KH tự nhiên và khách hàng xã hội. Các bước ĐT thường được tiến hành như sau:

  • Lập kế hoach điện thoại, bao gồm: mục đíchđối tượng, địa bàn, nhân lực, kinh phí,…;
  • thiết lập các mẫu phiếu ĐT với các thông số, kpi cần làm sáng tỏ;
  • chọn mẫu ĐT đại diện cho số đông, để ý tới những đặc trưng của đối tượng;
  • xử lý ebook ĐT: Các tài liệu thu thập được qua ĐT đủ sức được phân loại bằng mẹo thủ công hay xử lý bằng cách thức toán học thống kê và máy tính, cho ra những kết quả khách quan;
  • Khi cần kiểm tra kết quả nghiên cứucó thể điện thoại lại, refresh địa điểm, thời gian, thay đối tượng điều tra, hoặc sử dụng các PPNC support khác. ĐTXHH thực chất là trưng cầu quan niệm quần chúng, được tiến hành bằng hướng dẫn phỏng vấn trực tiếp, thảo luận hay bằng hệ thống bảng câu hỏi. Trưng cầu quan niệm là PP thu thập thông tin, dựa trên tác động về mặt tâm lý trực tiếp hay gián tiếp giữa nhà khoa học và người được hỏi quan niệm để tìm ra các ý kiến thông dụng nhất trong đám đông quần chúng. Phỏng vấn là PP nói chuyện trực tiếp giữa nhà khoa học với các phân khúc cần biết ý kiếnđàm luận là PP đơn vị thu thập thông tin bằng mẹo đưa ra những tình huống, những vấn đề nhằm thu hút các partners tìm hiểu vào một cuộc tranh biện hữu dụng trong các cuộc hội nghị, hội thảo, để người xung quanh tự bộc lộ ý kiến, tư tưởng.

Một PPĐTXHH thông dụng là lập hệ thống câu hỏi bằng văn bản, thường gọi là “Bảng câu hỏi” hay “Anket” (Questionaire). Anket là nền tảng câu hỏi với các phương án trả lời, người được hỏi lựa chọn câu trả lời theo nhận thức và quan điểm của mình. Anket có hai loại: Anket đóng và Anket mở. Anket đóng là nền tảng các câu hỏi mà người trả lời chỉ cần lựa chọn một trong các phương án đã có sẵn. Anket xây dựng là hệ thống các câu hỏi mà ngoài các phương án có sẵn, người trả lời đủ sức bổ xung ý kiến riêng của mình.

hiệu quả ĐTXH phải qua xử lý bằng các PP thống kê toán học hay bằng máy vi tính. Các hiệu quả vừa mới qua giải quyết mới được coi là thông tin khoa học. Một PPĐT khoa học khác hay được sử dụng trong tìm hiểu tâm lý học và dạy bảo học là PP trắc nghiệm (Test), một PP để tìm hiểu, đo đạc, nghiên cứu trí tuệ và tư cách con người.

tổng kếtđiện thoại là PPNC thực tiễn cần thiết và đa dạng trong ngành quy hoạch – kiến trúc. bên cạnh đóđiện thoại cũng không phải là PP vạn năng vì chúng có nhiều ưu thế nhưng cũng có nhược điểm. Trong nghiên cứu KHXH, kết quả điện thoại nhiều khi cho ta thông tin bản chất nhưng nhiều khi chỉ cho ta thông tin support, bổ sung hay test hiệu quả của các PPNC khác.

3. PP thực nghiệm khoa học (PPTNKH- Experiment)

Thực nghiệm KH là PPNC thực tiễn quan trọng, trong đó các nhà khoa học chủ động tác động vào thị trường và công cuộc diễn biến của sự kiện (SK) hoặc hiện tượng (HT) mà phân khúc tham dự, để tut thành đạt của chúng theo mục đích dự kiến. Thực nghiệm sự phát triển sẽ cho ta các hiệu quả khách quan, và giống như vậy mục tiêu khám phá khoa học được thực hiện một phương pháp hoàn toàn chủ động. trải nghiệm cho thấy thực nghiệm có ý nghĩa giống như là một cuộc phương pháp mạng trong NCKH, làm đảo lộn tìm hiểu khoa học kiểu cũ và nó được dùng triệt để trong nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là với các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật. Thực nghiệm vừa mới giúp đẩy nhanh quá trình NCKH và khả năng vận dụng nhanh chóng các kết quả NCKH vào thực tiễn sản xuất, đặc biệt trong ngành nghề thiết lập – kiến trúc.

PPTN giúp trình độ kỹ thuật thực hành NC đạt tới cấp độ tinh vi, giúp phát triển cả khả năng tìm hiểu lý thuyết. Thực nghiệm đã xây dựng một hướng tìm hiểu mới, hoàn toàn chủ động trong sáng tạo khoa học. hiện tại, PPTN đang được dùng cả trong lĩnh vực NCKH không gian và mang lại những hiệu quả cần thiết.

Trong NCKH tự nhiên và khách hàng kỹ thuật, người đọc còn sử dụng PP thí nghiệm, được tiến hành trong các phòng thí nghiệm (Labo – Laboratory) với những biện pháp kỹ thuật nhằm phát hiện đặc điểm và các quy luật phát triển của thị trường tìm hiểu. Thí nghiệm thực hiện trên cơ sở cải thiện dần các dữ kiện hay các chỉ số định tính và định lượng của những nguyên nhân tham gia SK/HT và lặp lại nhiều lần nhằm dựng lại tính ổn định của thị trường nghiên cứu. Thí nghiệm đủ sức là một bước, hay một bộ phận của tiến trình thực nghiệm khách hàng. Từ kết quả của những thí nghiệm đủ nội lực chuyển dần thành lý thuyết thực nghiệm. Thực nghiệm và thí nghiệm về bản chất cũng là để tìm tòi hay chứng minh một ý tưởng, một giả thuyết khách hàng nào đó. Đây là PPNC rất thích hợp và đa dạng trong lĩnh vực xây dựng – Kiến trúc (XD-KT).

4. PP đánh giá và tóm lại kinh nghiệm (PPPT&TKKN)

PPPT và TKKN là PPNC nhìn thấy xét lại thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kết bàn luận có ích cho khoa học và cho thực tiễn. PPTKKN thường hướng vào NC diễn biến, lý do của các SK/HT và NC các phương pháp thực tế đã ứng dụng trong sản xuất hay trong hoạt động thế giới để tìm ra các giải pháp hoàn hảo nhất. PPTKKN cũng còn nhằm phát hiện logic các bước đi để giải một bài toán sáng tạo trên cơ sở đánh giá một loạt các thông tin về một giải pháp, ví dụ: giải pháp kỹ thuật,… Đây chính là con đường sáng tạo theo mẹo thuật toán (Algorithm).

PPTKKN thường được tiến hành như sau:

  • Phát hiện các SK/HT điển hình: Các SK/HT này có tác động tới cuộc đời và hoạt động thực tế. Điển hình đủ nội lực là những SK/HT thành công hay fail. Những điển hình này thường tự bộc lộ như những SK/HT cần thiết mà người khác đều quan tâm;
  • Lập lại mô ảnh SK/HT, khôi phục lại SK/HT đã xảy ra, cố gắng đạt tới nguyên bản;
  • đánh giá từng mặt của SK/HT, những nguyên nhânhoàn cảnh xuất hiện, quá trình diễn biến của SK/HT, những thành công hay fail của các giải pháp theo quá trình lịch sử.
  • Dựa trên các lý thuyết khoa học đã được chứng minh để lý giải SK/HT, tìm ra những kết luận khách quan về bản chất và quy luật tăng trưởng của SK/HT, từ đó rút ra những bài học cần thiết.

5. PP chuyên gia (PPCG)

PPCG dùng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia của một chuyên ngành để xem xét, nhận định bản chất của SK/HT khoa học hay thực tiễn phức tạp, để tìm ra giải pháp tối ưu cho các SK/HT đó, hay đánh giá phân tích một món hàng khoa học… quan niệm của từng chuyên gia bổ sung cho nhau, check lẫn nhau và các ý kiến giống nhau của đa số CG về một vấn đề hay phương pháp đủ sức được coi là hiệu quả NC. PPCG rất kinh tế và phổ biến trong ngành quy hoạch – kiến trúc, giúp cắt giảm thời gian, sức lực và tài chính để triển khai NC. bên cạnh đó, PP này chủ yếu dựa trên cơ sở trực cảm và kinh nghiệm của CG, vì thế, chỉ nên dùng khi các PP khác k có điều kiện thực hiện hoặc k thể thực hiện được.

Khi dùng PPCG cần chú ý:

  • lựa chọn đúng CG có năng lực chuyên môn về lĩnh vực nghiên cứu, nắm vững PPL NCKH, có phẩm chất trung thực, khách quan, khoa học và có trải nghiệm trong nhận xét và phân tích một công trình KH;
  • Nếu sử dụng CG để nhận xét một SK/HT khoa học hay một giải pháp thực tế thì có thể thông qua các ảnh thức: thảo luậntranh biện trong các hội nghị, hội thảo,… tất cả các ý kiến, tư liệu cần được giải quyết nhất quán theo một phù hợp, một nền tảng tiêu chí, để tìm ra các ý kiến giống nhau, hoặc gần nhau của đầy đủ CG. Những ý kiến đó sẽ là những kết bàn luận chung về SK/HT cần xem xét;
  • Nếu dùng PPCG để đánh giá một công trình khoa học thì phải thiết lập một hệ thống các tiêu chí cụ thể, rạch ròi và đủ nội lực dùng một thang điểm chuẩn để nghiên cứu. Phải chỉ dẫn cho CG nghiên cứu theo thang điểm chuẩn đó;
  • Để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá và nghiên cứu một công trình khách hàng, cần giới hạn những tác động qua lại giữa các CG. CG đủ sức đánh giáphân tích bằng văn bản, k công khai. Nếu cần phân tích công khai, thì người có uy tín nhất không nên là người trước hết phát biểu quan niệm.

II. bí quyết tìm hiểu lý thuyết (PPNCLT)

PPNCLT là group các PP thu thập thông tin khách hàng trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, ebook, lý thuyết vừa mới có và bằng các thao tác tư duy logic để đúc kết các kết luận KH cần thiết.

1. PP nghiên cứu và thống kê lý thuyết (PPPT&THLT)

nghiên cứu LT nghiên cứu các văn bản, các tài liệu luận khác nhau về một đề tài, bằng mẹo đánh giá chúng thành các bộ phận, từng mặt theo lịch sử thời gian, để hiểu chúng một phương pháp đầy đủ và toàn diện, nhằm phát hiện ra những thiên hướng, những trường phái NC của từng tác giả và từ đó tập hợp những thông tin quan trọngthích hợpgiúp sức cho đề tài NC của mình. đo đạt LT là PP link từng mặt, từng bộ phận thông tin từ các lý thuyết vừa mới thu thập được, để tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đa số và sâu sắc thêm vào với đề tài NC của mình. công cuộc đo đạt LT cho ta một ebook toàn diện và khái quát hơn các ebook đã có.

phân tích và tổng hợp là hai PP có chiều hướng đối lập nhau, song chúng lại thống nhất và quan hệ biện chứng với nhau. phân tích sẵn sàng cho đo đạt và đo đạt lại tạo điều kiện cho nghiên cứu càng sâu sắc hơn.

NC lý thuyết thường diễn ra từ phân tích các ebook để tìm ra cấu trúc các lý thuyết, các trường phái, các thiên hướng phát triển của lý thuyết. Từ nghiên cứu người đọc lại đo đạt chúng lại để thiết lập thành một nền móng khái niệm, phạm trù, nguyên lý, tiến tới tạo thành các lý thuyết KH mới. Đó là những PP đa dạng và thích hợp với ngành quy hoạch – kiến trúc.

2. PP phân loại, nền tảng hóa lý thuyết (PPPL,HTHLT)

Phân loại (PL) là PP sắp xếp các tài liệu khách hàng thành một nền tảng logic, chặt chẽ theo từng mặt, từng group văn hóa, từng vấn đề khách hàng có cùng bản chất, cùng một hướng tăng trưởng. Phân loại sử dụng cho KH từ chỗ có kết cấu content khó khăn thành cái dễ nhận biết, easy dùng theo mục tiêu NC của các đề tài. Phân loại còn giúp phát hiện các quy luật phát triển của khách thể, cũng như thành đạt của tri thức KH, để từ đó mà dự báo được các xu hướng tăng trưởng của KH và thực tế.

nền tảng hóa (HTH) là PP bố trí các tri thức khách hàng thành nền tảng trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm cho sự hiểu biết của ta về phân khúc NC được đa số và sâu sắc. HTH là PP tuân theo quan điểm cấu trúc nền móng trong NCKH. Những thông tin phổ biến thu thập được từ các gốc, các ebook không giống nhau nhờ PPHTH mà ta có được một chỉnh thể với một cấu trúc chặt chẽ, để từ đó mà ta đủ nội lực thiết lập một lý thuyết mới hoàn chỉnh.

PL và HTH là hai PP luôn đi liền với nhau. Trong PL đã có nguyên nhân HTH. HTH phải dựa trên cơ sở của PL và HTH sử dụng cho PL được đầy đủ và chính xác hơn. PL và HTH là những bước tiến để tạo ra những tri thức KH mới, sâu sắc và toàn diện. Đó là những PP rất phổ biến và thích hợp với ngành quy hoạch – kiến trúc.

3. PP mô hình hóa (PPMHH)

MHH là PPNC các hiện tượng khách hàng thông qua việc thiết lập các mô ảnh giả định về đối tượng NC và dựa trên mô hình đó để NC trở lại phân khúc. MH là nền tảng các yếu tố vật chất hoặc ý tưởng. MH được thiết lập gần giống với thị trường NC, trên cơ sở tái hiện lại những mối gắn kết tính năngmối quan hệ nhân quả của các yếu tố tạo thành thị trường.

Đặc tính quan trọng của MH là sự tương ứng của nó với nguyên bản. MH thay thế thị trường và bản thân nó lại trở thành phân khúc để NC. MH là sự tái hiện thị trường NC dưới dạng trực quan. Tri thức thu được từ NC các MH là cơ sở để chuyển sang NC nguyên bản sinh động, phong phú và phức tạp hơn. MH lý thuyết có Nhiệm vụ xây dựng cấu trúc cái chưa có trong hiện thực, tức là MHH cái chưa biết để NC chúng. như vậy MH luôn luôn là cái giả định, vì vậy mà nó còn được gọi là MH giả thuyết. MHH được coi là một hình thức thử nghiệm tư duy để tìm kiếm bản chất phân khúc cần NC.

tóm lại, MHH là cách thức chuyển cái trừu tượng thành cái cụ thể, rồi dùng cái cụ thể để NC cái trừu tượng, đó là một PP nhận thức phổ biến trong NCKH, đặc biệt trong ngành nghề quy hoạch – kiến trúc. (QH – KT)

4. PP giả thuyết (PPGT)

Giả thuyết (GT) là PPNC thị trường bằng phương pháp dự báo bản chất của thị trường và tìm mẹo chứng minh các dự báo đó. giống như vậy, PPGT có hai chức năng: chức năng dự đoán và chức năng chỉ đường, trên cơ sở dự đoán mà tìm bản chất của SK/HT. Với hai tính năng đó, GT thực chất là một PP nhận thức. Trong NCKH, khi phát hiện các hiện tượng lạ mà với kiến thức đã có, k thể cho biết được, người ta thường tiến hành so sánh hiện tượng chưa biết với các hiện tượng vừa mới biết, từ tri thức cũ với trí tưởng tượng sáng tạo mà hình dung ra cái cần tìm. Đó chính là thao tác xây dựng GT. Trong GT, dự báo được lập bàn luận theo lối giả định, suy diễn, chân lý có tính xác xuất, vì thế cần phải chứng minh. Chứng minh GT đủ nội lực được thực hiện theo 2 cách: Chứng minh trực tiếp và chứng minh gián tiếp. Chứng minh trực tiếp là phép chứng minh dựa vào các luận giải cứ chân thực và theo các quy tắc suy lý luận để đúc kết lý luận đề. Chứng minh gián tiếp là phép chứng minh khẳng định rằng phản lý luận đề là không chân xác và từ đó rút ra luận đề chân thực..
Với đặc điểm là PP biện luận giải, GT được sử dụng như là một trải nghiệm của tư duytrải nghiệm design với các lý thuyết. Suy diễn để rút ra các kết luận giải chân thực từ GT là thao tác logich cần thiết của quá trình NCKH.

5. PP lịch sử (PPLS)

PPLS đi tìm nguồn gốc phát sinh, công cuộc biến hóa và tăng trưởng của thị trường để phát hiện bản chất và quy luật vận động của đối tượng. Mọi sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và thế giới đều có lịch sử của nó, tức là có nguồn gốc phát sinh, có vận động, phát triển và tiêu vong. tiến trình tăng trưởng lịch sử biểu hiện tất cả tính chân thật của nó, với mọi sự thay đổi, những bước quanh co, những cái ngẫu nhiên, những cái tất yếu, phức tạp, muôn ảnh, muôn vẻ,…trong các môi trường khác nhau và theo một trật tự thời gian nhất định. Đi theo dấu vết của lịch sử ta sẽ có bức tranh trung thực về bản thân phân khúc NC.

PPLS yêu cầu sử dụng rõ quá trình tăng trưởng của thị trường, phải nắm được sự vận động cụ thể trong tính phong phú của nó, phải bám sát thị trường, theo dõi những bước quanh co, những ngẫu nhiên của lịch sử, phát hiện sợi dây lịch sử của toàn bộ sự phát triển. Từ lịch sử tăng trưởng ta sẽ phát hiện ra quy luật tăng trưởng của đối tượng, tức là tìm ra cái logich của lịch sử. Đó chính là mục tiêu của mọi hoạt động NCKH.

PPLS trong NCLT còn được dùng để phân tích các tài liệu lý thuyết vừa mới có nhằm phát hiện các khuynh hướng, các trường phái NC, từ đó giúp ta xây dựng tổng quan về vấn đề NC, hay còn gọi là lịch sử chủ đề NC. Tổng quan là cơ sở để phát hiện những thành tựu lý thuyết đã có nhằm kế thừa, bổ xung và phát triển các lý thuyết đó. xây dựng tổng quan là con đường giúp ta phát hiện ra những thiếu sót, những vấn đề k hoàn chỉnh trong các ebook vừa mới có, để từ đó dựng lại sự cần thiết của chủ đề NC. Đây là một PPNC được vận dụng rất thông dụng và quen thuộc trong lĩnh vực QH-KT.

III. Các PP toán học ứng dụng trong NCKH

thành công mạnh mẽ của KH hiện đại vừa mới kéo đến hai khuynh hướng phát triển trong NCKH:

– Một là: Việc sử dụng các thiết bị hiện đại để tiến hành các hoạt động NC. Các thiết bị kỹ thuật là công cụ support vô cùng kết quả trong Quan sát, thực nghiệm,…và sử lý các thông tin, tư liệu thu thập được.

– Hai là: Việc sử dụng các lý thuyết toán học vào việc tìm ra các lý thuyết chuyên lĩnh vựcxu hướng ”toán học hóa” xây dựng ra con đường mới giúp NCKH đạt tới trình độ chính xác, sâu sắc, để từ đó tìm hiểu bản chất và các quy luật vận động của đối tượng NC.
kinh nghiệm cho thấy: Một khách hàng chỉ thực thành đạt khi nó sử dụng được toán học và thực tế cho đến nay toán học đang thâm nhập một mẹo sâu sắc vào toàn bộ mọi ngành nghề khách hànglàm cho khách hàng phát triển nhanh chóngkhách hàng hiện đại dùng toán học với hai mục đích:

  • dùng toán học tổng hợp giống như một công cụ giải quyết các thông tin vừa mới thu thập được từ các PPNC không giống nhau, như: Quan sát, điều tra hay thực nghiệm,…làm cho các hiệu quả NC trở nên chuẩn xác, bảo đảm độ tin cậy;
  • sử dụng các lý thuyết toán học và PP logic toán học để thiết lập các lý thuyết chuyên ngành. Nhiều công thức toán học đặc biệt được dùng để tính toán các thông số có liên quan tới đối tượng, từ đó tìm ra được các quy luật vận động của thị trường.

Toán học là KH suy diễn. Toán học bảo đảm cho quá trình NC đi đúng hướng, nhất quán, cũng như trong trình bày kết quả NC thành một nền tảng, mạch lạc và cùng lúc giúp tạo lập các ngôn ngữ KH chuẩn xác. Trong NCKH tự nhiên, khách hàng kỹ thuật, toán học là một tool đắc lực. KH tự nhiên và toán học gắn với nhau v như ảnh với bóng, thiếu vắng PP toán học không thể tiến hành NCKH tự nhiên, KH kỹ thuật. Trong NCKH xã hội, từ sự dựng lạilựa chọn mẫu NC, toán học đã tham dự một mẹo tích cực vào việc xử lý ebook, thông tin. Toán học đang sử dụng tăng tính chính xác, khách quan của các hiệu quả NC và nhờ đó các kết bàn luận của các công trình NC có tính thuyết phục cao hơn.

Nguồn: tapchikientruc.

Scroll to Top